TƯ LIỆU KHÁC


> Thư viện

> Liên kết website

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
KẾ TOÁN THUẾ

HÀ NỘI

ho tro online ha noi

ho tro online ha noi

TPHCM

ho tro online TPHCM

ho tro online TPHCM

ĐỒNG NAI

ho tro online Dong Nai

BẮC NINH

ho tro online Bac Ninh

Dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong

Sach ke toan thue, sach ke toan tai chinh

Dao tao ke toan, hoc ke toan

Bản đồ chỉ đường đến VAFT

Tin Thuế Mới 

Tin tuc thue,thue tndn,thue tncn,thue gtgt,thue khac,quyet toan thue

 

Tin Tức Kế Toán

Tin tuc ke toan, hoc ke toan, nghien cuu ke toan, he thong ke toan

Nhấn vào + 1 nếu thấy thông tin hữu ích với bạn!

Trăn trở về thuế thuế thu nhập doanh nghiệp đối với báo chí (26/04/2010) In E-mail

 

Trong thời gian vừa qua, đã có không ít ý kiến đề xuất Bộ Tài chính cần có quy định hoặc hướng dẫn đặc thù về thuế đối với báo chí, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật với các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan báo chí có thêm nguồn lực tài chính để phát triển sự nghiệp báo chí cách mạng.  

Sau buổi làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân với Hội nhà báo Việt Nam và đại diện lãnh đạo một số Bộ, ngành; Văn phòng Chính phủ có văn bản số 357/TB-VPCP ngày 21/12/2009 thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, trong đó giao Bộ Tài chính "khẩn trương nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ nội dung hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với hoạt động báo chí, phù hợp với tính đặc thù của báo chí và đảm bảo chính sách ưu tiên, hỗ trợ hoạt động báo chí theo đúng quy định của pháp luật".

Chuyên mục kỳ này xin chia sẻ đôi điều trăn trở của cơ quan tham mưu chính sách với kỳ vọng nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc gần xa xung quanh nội dung này.

1. Vài nét đặc thù của báo chí và chính sách thuế đối  với cơ quan báo chí

Luật báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí (số 12/1999/QH10 ngày 12/6/1999) có quy định: “Báo chí ở nước CHXHCN Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân.”

Để báo chí thực hiện được nhiệm vụ của mình, Luật và các văn bản hướng dẫn quy định cơ quan báo chí phải được đơn vị chủ quản là các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội,.. ra quyết định thành lập; cơ quan chủ quản báo chí có trách nhiệm bố trí các nguồn lực cần thiết cho cơ quan báo chí hoạt động.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, các cơ quan báo chí được tổ chức hoạt động kinh doanh, dịch vụ phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của mình theo các quy định của pháp luật, tạo thêm nguồn thu để đầu tư trở lại cho việc phát triển sự nghiệp báo chí sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2009 cả nước có trên 700 cơ quan báo chí thuộc các loại hình: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử,... đang hoạt động theo các cơ chế tài chính khá đa dạng. Đa số cơ quan báo chí thuộc các Bộ, ngành, địa phương thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp có thu (tự chủ hoàn toàn hoặc tự chủ một phần kinh phí thường xuyên). Trên giác độ tài chính, cơ quan báo chí đang chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật về báo chí, pháp luật về thuế, pháp luật về tổ chức bộ máy và tự chủ tài chính (Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập). Một số cơ quan báo chí hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, tự bảo đảm tòan bộ kinh phí hoạt động, riêng đài truyền hình Việt Nam được Chính phủ cho áp dụng cơ chế đặc thù, tương tự như cơ chế tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước. Trong khi đó, cơ quan báo chí của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp chủ yếu hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm kinh phí hoạt động, không được ngân sách hỗ trợ kinh phí.

Về chính sách thuế hiện hành áp dụng đối với báo chí: Có thể nói rằng chính sách thuế hiện hành không nhằm vào điều tiết báo chí, trái lại cơ quan báo chí đang được áp dụng các chế độ ưu đãi cao về thuế như:

(i) được miễn (không phải nộp) thuế môn bài.

(ii) không phải nộp thuế GTGT đối với các hoạt động báo chí, gồm: phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách cấp; xuất bản, nhập khẩu và phát hành sách chính trị, sách văn bản pháp luật, sách khoa học kỹ thuật, báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành (bao gồm cả hoạt động truyền trang báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành), băng hoặc đĩa  ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử.

(iii) không phải nộp thuế TNDN đối với thu nhập từ hoạt động thuộc nhiệm vụ chính của báo chí và được nhận tài trợ từ các nguồn, trong đó có cả tiền thu được do phát hành, xuất bản các ấn phẩm báo chí (hoặc sản phẩm tương tự). Nguồn thu từ sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân theo các chương trình vận động tài trợ để tham gia vào chương trình từ thiện, nhân đạo, giáo dục truyền thống,... theo các mục tiêu được cấp có thẩm quyền phê duyệt cũng không phải chịu thuế.

(iv) trường hợp cơ quan báo chí có thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ như in ấn cho bên ngoài, thực hiện các hợp đồng dịch vụ quảng cáo, tổ chức sự kiện, kinh doanh khách sạn, du lịch,... thì các hoạt động này thực hiện nghĩa vụ thuế như các tổ chức, cá nhân khác; nếu trang trải đủ chi phí, có lãi thì mới phải nộp thuế TNDN.

2. Chính sách thuế TNDN và một số ý kiến tranh luận cần áp dụng đối với cơ quan báo chí

Từ ngày 01/01/2009, cả nước thống nhất áp dụng Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội, theo đó mức thuế suất chung là 25% tính trên thu nhập. Mức thuế từ 32% đến 50% áp dụng đối với dự án thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm tại Việt Nam. Mức thuế ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm được áp dụng với các cơ sở thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Mức thuế ưu đãi cao hơn (10% trong thời gian 15 năm) được áp dụng với các cơ sở thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn hoặc thuộc một số lĩnh vực đặc biệt về cơ sở hạ tầng, công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Mức thuế ưu đãi đặc biệt 10% trong suốt thời gian hoạt động đối với thu nhập từ lĩnh vực xã hội hóa trong giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường. Ngoài ra, tùy thuộc vào địa bàn đầu tư, cơ sở thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi trên còn được miễn thuế TNDN từ 2 đến 4 năm, được giảm 50% thuế TNDN trong 4 đến 9 năm tiếp theo. Trước khi tính thuế, DN được trừ các khỏan chi phí hợp lý để tạo ra thu nhập, nếu không có thu nhập (lãi) thì không phải nộp thuế TNDN. Đối với những đơn vị sự nghiệp có thu mà không hạch toán tách bạch, chính xác chi phí của các hoạt động kinh doanh, dịch vụ thì được nộp thuế theo cách đơn giản là áp tỷ lệ % trên doanh thu (5% đối với dịch vụ, 1% đối với kinh doanh hàng hóa, 2% đối với hoạt động khác).

Về việc miễn thuế đối với một số loại thu nhập: Điều 7 Luật thuế TNDN quy định miễn thuế đối với 7 loại thu nhập như: Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi của tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp; Thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV; thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội; Thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần, liên doanh, liên kết kinh tế với doanh nghiệp trong nước, sau khi bên nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh, liên kết đã nộp thuế TNDN; Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.

Đối với cơ quan báo chí, như đã nêu ở phần trên, thuế TNDN không áp dụng đối với nguồn thu từ hoạt động báo chí được tài trợ kinh phí hoặc nguồn thu từ xuất bản, phát hành báo chí; thuế TNDN chỉ áp dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ có thu nhập, bảo đảm sự bình đẳng với các đối tượng khác có cùng hoạt động. Trường hợp có phát sinh 7 loại thu nhập nêu trên thì cơ quan báo chí cũng được thực hiện miễn thuế. Liên quan đến việc hướng dẫn thuế TNDN đối với báo chí, hiện nay đang có một số ý kiến xin được trao đổi dưới đây:

2.1- Có ý kiến đề xuất rằng cơ quan báo chí nộp đủ thuế theo Luật và Nhà nước cấp lại tiền thuế đã nộp như cơ chế trước đây áp dụng đối với các cơ sở báo in theo Thông tư số 48 ngày 29/5/2000 của Bộ Tài chính. Nếu thực hiện theo cách này thì rõ ràng là xét về mặt hình thức, cơ quan báo chí đã hành thành đủ nghĩa vụ thuế với NSNN. Tuy nhiên, Luật NSNN đã bãi bỏ các quy định trước đây và nghiêm cấm việc cấp lại tiền thuế ngay từ năm ngân sách 2004. Do đó, đề xuất này là không phù hợp và không có cơ sở pháp lý để hướng dẫn thực hiện.

2.2- Có ý kiến đề xuất rằng hiện nay, các cơ quan báo chí chỉ áp dụng thuế TNDN đối với hoạt động quảng cáo và những hoạt động kinh doanh khác như tổ chức sự kiện có tính chất du lịch thương mại, kinh doanh du lịch, in ấn,... với mức thuế suất thuế TNDN là 25% (trước đây là 28%). Do đây chỉ là các hoạt động bổ sung hoặc phát sinh do điều kiện đặc thù, lợi thế của báo chí, vậy nên chăng miễn thuế (không thu thuế) đối với tất cả hoạt động kinh doanh, dịch vụ của báo chí? Tuy nhiên, đề xuất này đã được đưa ra thảo luận trong quá trình soạn thảo, hòan chỉnh dự án Luật thuế TNDN để trình Quốc hội thông qua và kết quả cuối cùng là không được Quốc hội chấp thuận. Bởi vì, các hoạt động có thu ngoài nhiệm vụ chính trị của báo chí là các dịch vụ thông thường, mọi tổ chức đều có thể làm, cho nên cần thực hiện đầy đủ, thống nhất, bình đẳng nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.

2.3- Có ý kiến cho rằng các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ có thu của cơ quan báo chí cần nộp thuế nhưng nên chăng cho báo chí áp dụng cơ chế ưu đãi thuế cao nhất, chỉ nộp thuế 10% như là mức thuế suất ưu đãi đang áp dụng đối với các lĩnh vực xã hội hóa ? Về ý kiến này, đề nghị được xem xét, trao đổi trên các khía cạnh dưới đây:

Thứ nhất, thực tế hiện nay các cơ quan báo chí thuộc loại hình đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ; trường hợp có thu nhập từ các hoạt động ngoài nhiệm vụ chính trị được giao thì nộp thuế TNDN theo mức thuế suất 25%. Qua khảo sát thực tế tại các địa phương cho thấy đa số các cơ quan báo chí hạch toán được doanh thu nhưng không hạch toán và xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh. Do vậy, phần lớn cơ quan báo chí thực hiện kê khai nộp thuế TNDN tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ, (dịch vụ: 5%, kinh doanh hàng hoá: 1%, hoạt động khác: 2%). Số liệu tổng hợp từ các Cục thuế địa phương cho thấy nguồn thu chủ yếu của các cơ quan báo chí là thu từ hoạt động quảng cáo (quảng cáo chiếm gần 76% tổng doanh thu).

Thứ hai, xã hội hoá theo cách hiểu hiện nay là việc chuyển giao một số dịch vụ công để khu vực doanh nghiệp và cá nhân được tham gia cung cấp cho xã hội thay vì việc Nhà nước phải lo toàn bộ như trước đây. Nói cách khác, xã hội hóa chính là việc huy động nguồn lực của khu vực doanh nghiệp và tư nhân để đầu tư vào phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công cộng trong một số lĩnh vực theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, gắn với các điều kiện, tiêu chí cụ thể do Chính phủ quy định. Trong khi đó, báo chí là lĩnh vực nhạy cảm, luôn được Nhà nước quan tâm đầu tư, chăm lo để báo chí thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị to lớn của mình, không có lý do gì để có thể đưa báo chí vào lĩnh vực xã hội hoá. Hoạt động dịch vụ mà các cơ quan báo chí đang làm theo quy định của Luật báo chí (như in ấn, quảng cáo, du lịch, khách sạn, tổ chức sự kiện,...) là những dịch vụ mà các tổ chức, doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh, không thuộc danh mục khuyến khích xã hội hoá theo Nghị quyết 05/NQ-TW, do đó cũng cần thực hiện bình đẳng về nghĩa vụ thuế TNDN theo quy định của pháp luật.

Như vậy, chúng ta không có đủ cơ sở pháp lý, cũng không đủ đạo lý, quan điểm, lập trường cũng như căn cứ thực tiễn để vận dụng cho báo chí áp dụng thuế TNDN với thuế suất ưu đãi 10%.

2.4- Có không ít ý kiến đề nghị nên cho báo chí áp dụng cơ chế “linh hoạt” hoặc “mềm dẻo” hơn khi xác định thu nhập chịu thuế đối với hoạt động có thu để các nguồn thu này có thể được sử dụng ngay cho nhiệm vụ chính của báo chí. Qua nghiên cứu, trao đổi với một số cơ quan báo chí và cơ quan thuế địa phương cho thấy có một số vấn đề cụ thể cần vận dụng xử lý trong hướng dẫn về thuế TNDN:

Một là, vấn đề chi phí tiền lương: thực tế hiện nay là các báo có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập, khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN thì chỉ được chấp nhận hệ số lương 1 lần được hạch toán vào chi phí hợp lý của hoạt động dịch vụ (phần chênh lệch thực tế trả cao hơn lấy từ thu nhập sau thuế). Vấn đề này đang bị giới hạn theo quy định của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc Bộ Tài chính có thể trình Thủ tướng Chính phủ cho phép cơ quan báo chí, xuất bản được hạch toán chi phí tiền lương (bao gồm cả thu nhập tăng thêm) vào chi phí hợp lý theo số thực chi theo quy định của hợp đồng lao động như cơ chế doanh nghiệp vì cơ quan báo chí cũng thực hiện nộp thuế TNDN và áp dụng chung mức thuế suất đối với các hoạt động dịch vụ này như các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, có thể sẽ phát sinh hệ lụy chính sách là một số cơ quan báo chí có thể suy bì với các báo khác do vị trí của cơ quan đó không thể làm, thậm chí không được làm những việc mà các báo khác đang thực hiện. Khi đó, chúng ta có thể đề xuất với Chính phủ, Quốc hội áp dụng cơ chế hỗ trợ tài chính đặc thù để bù lại cho sự thiệt thòi của những tòa báo vì nhiệm vụ chính trị mà không thể làm thêm dịch vụ, mặc dù họ có năng lực, có thể làm.

Hai là, vấn đề chi trả nhuận bút báo chí: Nghị định số 61/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ nhuận bút quy định: Đối với cơ quan báo chí hoạt động chủ yếu bằng NSNN, do cơ quan chủ quản cấp, quỹ nhuận bút hàng năm được tính bằng số lượng mức hệ số nhuận bút bình quân trong một kỳ báo, tạp chí nhân với (x) giá trị một đơn vị hệ số nhuận bút, nhân với (x) số kỳ báo, tạp chí trong năm; cộng thêm phần nhuận bút khuyến khích và thù lao. Đối với cơ quan báo chí tự cân đối được kinh phí và có lãi do hoạt động báo chí, quỹ nhuận bút được tính từ doanh thu hoạt động báo chí theo tỷ lệ từ 1% đến 10% tuỳ theo số lượng bản phát hành. Ngoài ra, Quỹ nhuận bút còn được bổ sung từ các nguồn thu khác của cơ quan báo chí có sự đồng ý của cơ quan chủ quản.

Chúng ta có thể hiểu quy định về nhuận bút tại NĐ 61/2002/NĐ-CP chủ yếu là nhằm xác định mức hỗ trợ của NSNN đối với các cơ quan báo chí được Nhà nước tài trợ. Quỹ nhuận bút gắn chặt với tiền lương và thu nhập của đội ngũ phóng viên, cộng tác viên, vì vậy cũng cần có quy định thông thoáng hơn trong việc trích lập đối với các cơ quan báo chí có nguồn thu dịch vụ hoặc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính (cả về tỷ lệ % và doanh thu làm cơ sở trích). Để phản ánh đủ các chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế và tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí nâng cao chất lượng tin bài, chúng tôi cho rằng một mặt cần trình với Chính phủ sửa đổi quy định về nhuận bút, thay thế cho những quy định không còn phù hợp với thực tiễn. Chúng tôi xin đề xuất cần xem xét coi khoản chi trả nhuận bút báo chí như là chi phí dịch vụ mua ngoài, cơ quan báo chí được tính toàn bộ khoản chi trả nhuận bút vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo số thực chi (kể cả trường hợp có thể trả mức cao hơn), trên cơ sở Quy chế tài chính của cơ quan báo chí và có đủ hoá đơn, chứng từ chi hợp pháp.

Ba là, qua nghiên cứu tính chất đặc thù hoạt động báo chí, xin đề xuất một số giải pháp liên quan đến chính sách thuế TNDN có thể trình Thủ tướng Chính phủ cho triển khai thực hiện:

- Về nguồn thu từ quảng cáo trên báo chí, với đặc thù là việc quảng cáo được thể hiện luôn trên ấn phẩm báo chí hoặc chương trình phát sóng, cho nên nguồn thu này không thể tách rời nguồn thu về xuất bản, phát hành, chương trình chính. Vì vậy, xin đề xuất cho vận dụng theo cơ chế: nguồn thu quảng cáo sau khi nộp đủ thuế GTGT, bù đắp chi phí của quảng cáo, còn lại sẽ được sử dụng một phần để bù đắp chi phí cho hoạt động báo chí (nếu nguồn thu về phát hành, xuất bản không đủ bù số chi), số còn lại mới đưa vào thu nhập tính thuế, và nếu không còn thì sẽ không phải nộp thuế. Theo cách này thì báo chí vừa có thêm nguồn lực và cũng chấp hành được quy định của pháp luật thuế. Hiện tại, Thủ tướng Chính phủ mới cho phép Đài truyền hình Việt Nam được áp dụng cơ chế tài chính như đối với doanh nghiệp nhà nước, đồng thời Nhà nước không tài trợ ngân sách cho hoạt động của đài. Tuy mới triển khai, cần có thời gian tổng kết đánh giá nhưng bước đầu có nhiều dấu hiệu tiến triển tốt. Như đã nêu ở phần trên, thuế không nhằm mục tiêu điều tiết vào báo chí và chúng ta cũng không nên kỳ vọng nhiều vào số thuế mà cơ quan báo chí có thể nộp cho NSNN, do vậy cơ chế đề xuất này có thể nhận được sự đồng tình của các tổ chức, cơ quan hữu trách.

- Về khống chế chi phí về báo biếu, báo tặng theo quy định của Luật thuế TNDN: xét về bản chất thì khoản chi báo biếu, tặng cho một số đối tượng cũng không hoàn toàn giống chi phí giao dịch, môi giới, quảng cáo vì không phải ai cũng được biếu báo. Người được biếu báo thường là các cán bộ lão thành mà cơ quan báo chí cần tranh thủ sự góp ý về nội dung, định hướng tuyên truyền, hoặc cần tận dụng trí tuệ của họ. Trị giá bằng tiền của báo biếu có thể xếp tương tự như chi trả dịch vụ tư vấn bằng chính ấn phẩm báo chí, cũng có thể được xem như là một khoản chi cần thiết về đầu tư cho tương lai. Báo, tạp chí được biếu tặng cho tác giả là chuyện đương nhiên, đã có quy định của pháp luật. Những trường hợp đối tác ký kết các hợp đồng quảng cáo, tác giả của các tác phẩm báo chí được đăng trên mặt báo cũng là những đối tượng đương nhiên được thụ hưởng báo biếu, và như vậy đây là chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ mà không giống như chi phí về giao dịch, đối ngoại của doanh nghiệp. Việc bỏ mức khống chế đối với chi phí báo biếu, báo tặng đòi hỏi phải sửa đổi Luật thuế TNDN, trước mắt cần đề xuất với Thủ tướng Chính phủ cho phép cơ quan báo chí không phải tính vào khỏan mục chi bị khống chế tối đa 10% đối với báo hiếu, tặng cho một số đối tượng (như: người có công với cách mạng, thương bệnh binh, đồng bào ở hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn).

Những điều trăn trở, những ý kiến xung quan vấn đề thuế đối với báo chí và một số đề xuất nhỏ được đề cập trong bài viết này mong nhận được sự phản hồi, chia sẻ của bạn đọc và các bạn đồng nghiệp trong làng báo để chúng ta có được tiếng nói chung, đóng góp vào việc đẩy mạnh phát triển báo chí.

Th.S Nguyễn Văn Phụng, Phó Vụ trưởng Vụ CST, Bộ Tài chính

 

--------------------------------------------------

>>> Tin mới nhất

>> Về việc nâng cấp phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế (HTKK 3.1.1) (04/02/2012)

>> TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO Về việc nâng cấp phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế (HTKK 3.1.0) và Phần mềm công cụ khai quyết toán thuế TNCN (QTTNCN 3.0) (18/01/2012)

>> TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO Về việc nâng cấp phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế phiên bản HTKK 3.0.2 ( 01/12/2011 )

>> Thông báo về việc tổ chức thi cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế năm 2011 ( 30/11/2011 )

>> TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO Về việc nâng cấp phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế phiên bản HTKK 3.0.1 ( 17/09/2011)

>> TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO Về việc nâng cấp phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế phiên bản HTKK 3.0 ( 04/08/2011)

>> Sửa đổi mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng quặng sắt và tinh quặng sắt thuộc nhóm 26.01 quy định tại Biểu thuế xuất khẩu (25/05/2011)

>> Thông báo về việc phát hành phần mềm ứng dụng Hỗ trợ kê khai thuế (HTKK 2.5.5) phiên bản HTKK 2.5.5

>> Thông tư hướng dẫn số 52/2011/TT-BTC Gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011 (27/04/2011)

>> Gia hạn nộp thuế thu nhập DN của DN nhỏ và vừa: Tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011 (11/04/2011)

Dao tao ke toan ,Dao tao ke toan thue, đào tạo kế toán,Đào tạo kế toán thuế tại hà nội, tphcm, Đồng Nai Dao tao ke toan truong , Đào tạo kế toán trưởng ,hoc ke toan truong, học kế toán trưởng tại TPHCM, ở Hà Nội, Đồng Nai

 

Lớp Bồi Dưỡng Nghiệp Vụ Thi Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Dịch Vụ Làm Thủ Tục Về Thuế hoc ke toan, hoc sinh ,sinh vien giam 20% hoc phi

 

dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong ,lop ke toan truong tai ha noi dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong ,lop ke toan truong tai tphcm

 

>> Thông tư số 145/2011/TT/BTC của Bộ Tài Chính ngày 24/10/2011 Quy định mức thuế suất thuế xuất khẩu một số mặt hàng cao su thuộc nhóm 40.01, 40.02, 40.05 trong biểu thuế xuất khẩu

>> Thông tư số 144/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 21/10/2011 Quy định bổ sung, sửa đổi và hướng dẫn Mục lục ngân sách nhà nước

>> Thông tư số 141/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 20/10/2011 Quy định về chế độ thanh toán tiền nghỉ phép hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng làm việc trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập

>> Quyết Định số 54/2011/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 11/10/2011 Về việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số ngành nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh

>> Thông tư số 137/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 03/10/2011 Về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí qua phà Tắc Cậu - Xẻo Rô, tỉnh Kiên Giang

>> Thông tư số 133/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/09/2011 Quy định về học phí sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên đối với đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thuỷ nội địa, bổ túc nâng hạng thuyền trưởng, máy trưởng phương tiện thủy nội địa

>> Thông tư số 132/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/09/2011 Hướng dẫn phương pháp xác định giá trị vườn cây cao su khi cổ phần hóa

>> Thông tư số 23/2011/TT-BLĐTBXH ngày 16/09/2011 Hư­ớng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động

>> Thông tư số 129/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 15/09/2011 Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản

>> Thông tư số 128/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/09/2011 Hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở y tế công lập

>> Thông tư số 125/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 05/09/2011 Hướng dẫn kế toán áp dụng đối với Công ty quản lý Quỹ

>> Thông tư số 124/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 31/08/2011 Hướng dẫn về lệ phí trước bạ

>> Thông tư số 119/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 16/08/2011 Sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi bộ phận dùng cho màn hình dẹt (mỏng) thuộc các mã số 8529.90.94.10, 8529.90.94.90 trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

>> Thông tư số 118/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 16/08/2011 Hướng dẫn về thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu của các dự án điện

>> Thông tư số 116/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 15/08/2011 Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 36/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành mức thuế nhập khẩu xe ôtô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống đã qua sử dụng

>> Thông tư số 113/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 04/08/2011 sửa đổi, bổ sung thông tư số 62/2009/tt-btc ngày 27/3/2009, thông tư số 02/2010/tt-btc ngày 11/01/2010 và thông tư số 12/2011/tt-btc ngày 26/01/2011.

>> Thông tư số 108/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/07/2011 Sửa đổi, bổ sung quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng trong Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

>> Thông tư số 105/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/07/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 63/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 của Bộ Tài chính quy định áp dụng thí điểm chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp

>> Thông tư số 104/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/07/2011 Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài

>> Thông tư số 103/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 11/07/2011 Sửa đổi, bổ sung Khoản 75 Mục II Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 184/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính

 

dao tao ke toan truong,hoc ke toan truong,lop ke toan truong tai ha noi, tphcm

Lớp Bồi Dưỡng Nghiệp Vụ Thi Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Dịch Vụ Làm Thủ Tục Về Thuế

Hoc ke toan, thuc hanh ke toan khai bao thue thuc te tai ha noi ,tphcm

Hướng dẫn lập báo cáo tài chính, huong dan lap bao cao tai chinh, dieu chinh sai sot bctc

TLS gửi 6733, tư vấn mua chứng khoán

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai ha noi

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai tphcm

dich vu ke toan,dich vu ke toan khai bao thue, dịch vụ kế toán thuế

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai ha noi ,tphcm