TƯ LIỆU KHÁC


> Thư viện

> Liên kết website

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
KẾ TOÁN THUẾ

HÀ NỘI

ho tro online ha noi

ho tro online ha noi

TPHCM

ho tro online TPHCM

ho tro online TPHCM

ĐỒNG NAI

ho tro online Dong Nai

BẮC NINH

ho tro online Bac Ninh

Dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong

Sach ke toan thue, sach ke toan tai chinh

Dao tao ke toan, hoc ke toan

Bản đồ chỉ đường đến VAFT

Tin Tức Kế Toán

Tin tuc ke toan, hoc ke toan, nghien cuu ke toan, he thong ke toan

 

Tin Tức Kiểm Toán
Tin tuc kiem toan, kiem toan nha nuoc, kiem toan doc lap , kiem toan noi bo, chuyen de kiem toan

Nhấn vào + 1 nếu thấy thông tin hữu ích với bạn!

Định giá công ty xây dựng In E-mail


Một trong các nhiệm vụ mà những người làm công tác tài chính - kế toán trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng thường được yêu cầu thực hiện là tiến hành định giá một công ty xây dựng. Cũng như các doang nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác, mục đích định giá công ty xây dựng có thể xuất phát từ yêu cầu sáp nhập mua lại, giao nhận thầu, mở rộng tín dụng hoặc phát hành trái phiếu vay nợ.

Tuy nhiên, yêu cầu định giá ở đây ngoài việc phục vụ cho các quyết định thông thường còn xem xét đến khả năng thu nhập của một công ty xây dựng. Điều này, đến lượt nó lại phụ thuộc một phần vào các tài sản dự kiến thanh lý hoặc được sử dụng như là vật đảm bảo có khả năng đáp ứng cho một công trình hoàn thành hoặc cho một khoản vay cụ thể.


Giá trị sổ sách, giá trị thanh lý và giá trị doanh nghiệp đang hoạt động
 
 Không tính đến các yếu tố vô hình, phương pháp ước tính giá trị thanh lý của một công ty xây dựng có thể được tóm tắt trong bốn phần:


1. Lượng tiền mặt có thể dự kiến thu được từ việc bán thanh lý tất cả các tài sảnhữuhình.

2. Cộng với lượng tiền mặt có thể thu được từ các khoản phải thu và tất cả các tàisảnlinh tinh, công cụ dụng cụ khác.


3. Cộng với lợi nhuận có thể thu bằng tiền mặt từ việc hoàn thành các công trìnhđangthực hiện dở dang.


4. Trừ đi tất cả các nghĩa vụ nợ phải trả và chi phí dự kiến thanh lý tài sản.    

Rõ ràng, với phương pháp này sẽ không giống những gì người ta nhìn thấy qua giá trị sổ sách, cụ thể là trên bảng cân đối kế toán. Cho dù khởi điểm quá trình định giá thường dựa vào bảng cân đối kế toán hiện hành bởi vì nó thể hiện tổng tài sản và nguồn hình thành lên tài sản gồm nghĩa vụ nợ và vốn chủ sở hữu.

Sự khác nhau là ở chỗ, mỗi tài sản sẽ được định giá theo giá trị thời điểm hiện tại và cóthể thực thu về tiền mặt nếu đem bán nó để thanh lý công ty. Nói cách khác giá trị sổsách thường không bằng, có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn, so với giá trị thanh lý.

Ngược lại với giá trị thanh lý, giá trị doanh nghiệp đang hoạt động  nhấn mạnh vào giá trị của một thực thể, như một cơ thể sống, đang tồn tại và sẽ liên tục hoạt động, khácvới việc bán thanh lý tài sản để trả nợ và giải thể công ty. Như vậy, định giá theo phương pháp này còn phải tính đến khả năng hoạt động và khả năng sinh lời của côngty qua các hợp đồng trúng thầu và các hoạt động mang lại lợi nhuận khác nữa.

Ở rất nhiều công ty, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức, uy tín của đội ngũ các nhà quản lý giỏi và chuyên viên có kỹ năng lại góp phần quan trọng và đôi khi là nhân tốquyết định đến giá trị doanh nghiệp.

Tóm lại, khi định giá một công ty xây dựng hay một doanh nghiệp đang hoạt động nóichung,tấtcảmọinhântố hữu hình hay vô hình nào có thể tiếp tục góp phần tiếp tục mang lại lợi nhuậntrongtươnglaiđềuđược xemlà những nhân tố của giá trị doanh nghiệp.

Tài sản vô hình

Về tổng quát, phần chênh lệch dôi dư giữa giá trị doanh nghiệp đang hoạt động so với giá trị thanh lý, theo thuật ngữ tài chính kế toán được gọi là tài sản vô hình.

Tất nhiên, có thể có nhiều định nghĩa về thuật ngữ này một cách khác nhau. Nhưngvề tổng quát, khi mang thuật ngữ này áp dụng vào ngành công nghiệp xây dựng thì nó có nghĩa là khả năng của công ty trong việc quản lý các tài sản và tổ chức hiện có đểtạo ra lợi nhuận nhiều hơn mức bình thường so với một doanh nghiệp xây dựng có điềukiện và quy mô hoạt động tương tự.

Nói chung, khả năng tạo ra lợi nhuận của một công ty xây dựng, cao hơn hay thấphơn mức bình thường phụ thuộc vào hai điều:


   1. Năng lực tổ chức của công ty xây dựng thể hiện qua sự tăng trưởng liên tục,minh chứng cho việc tận dụng các cơ hội, hoàn thành công trình dự án và sinh lời.

   2. Năng lực tài chính công ty trong các công trình cũng như đội ngũ chuyên viên vàtrang thiết bị mà công ty có thể kiểm soát.


 Điều này có nghĩa là trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng, giá trị tài sản vô hình có xu hướng thiên về giá trị con người, sự quản lý, bao gồm cả uy tín và các mối quan hệ cánhân của họ.


Khi đánh giá để mở rộng tín dụng hoặc định giá trái phiếu vay nợ của một công ty xây dựng, ở một mức độ nào đó, dù không phải luôn như vậy, phụ thuộc vào sự đánhgiá của nhà cho vay đối với năng lực và tính liêm trực của các cá nhân trong ban quản lý.


Các nhà thầu phụ và các nhà cung cấp có xu hướng chào giá ưu đãi cho các nhà thầu nào quản lý tốt, thanh toán hoá đơn đúng hạn, giải quyết các yêu cầu nhanhchóng và công bằng.


Như vậy, thật rõ ràng là các “tố chất” trên đây có xu hướng gắn liền với các cá nhântạo lập nên tố chức của công ty hơn là với bản thân công ty đó.


Ngoài ra, một công ty trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng có thể có các lợi thế về vị trí, địa thế thương mại, quyền kiểm soát nguồn nguyên liệu hoặc các đặc quyền “riêng” khác.


Tận dụng các nguồn lực


Điều này có liên quan mật thiết đến kỹ năng quản lý của đội ngũ trong một công ty xây dựng, thể hiện khả năng tận dụng các nguồn lực công ty nhằm đạt lợi thế lớn nhất.

Do vậy, định giá một công ty xây dựng theo phương pháp giá trị doanh nghiệp đanghoạt động tại bất kỳ thời điểm cụ thể nào, việc tận dụng nguồn lực cũng đủ quan trọngđể nên được xem xét riêng.


Trong thực tế, nhiều công ty không tận dụng nguồn lực của họ một cách hiệu quả,thể hiện qua việc nắm giữ quá lớn những thiết bị không cần thiết, chưa cần dùng hoặckhông hữu dụng.


Một số công ty có chính sách nắm giữ vốn lưu động  quá mức cần thiết, tận dụngcơ hội giá cả mua tích trữ các vật liệu, tiện ích nhưng chưa dùng ngay.

Khi xác định giá trị theo phương pháp doanh nghiệp đang hoạt động, những tài sảnkhông hiệu quả như vậy trở thành yếu tố giảm giá trị công ty qua đánh giá năng lựcquản lý.


Lưu ý trong định giá thiết bị

Trong khi định giá thiết bị của công ty xây dựng cần phải chú ý đến hai khả năng thường xảy ra.


Thứ nhất, các thiết bị đã khấu hao hết nhưng vẫn còn có thể sử dụng.

Thứ hai, một số bộ phận có thể bị tách rời khỏi thiết bị để bỏ đi, đã bán, đang lưu kho hoặc được lắp đặt vào một thiết bị khác mà không có bất kỳ điều chỉnh nào trongsổ sách kế toán công ty. Tốt nhất cần phải nhờ đến các chuyên viên có kiến thức vềthiết bị xây dựng để lập bảng kiểm kê thiết bị. Trong đó, liệt kê các hạng mục của thiết bị và các phụ tùng đặc biệt đi kèm.


Lưu ý trong định giá tài sản ngắn hạn


Có thể dễ dàng đọc thấy trên bảng cân đối kế toáncủa bất kỳ công ty nào cũng như công ty xâydựng, tài sản ngắn hạn  bao gồm ba khoản mụcchủ yếu sắp đặt thứ tự theo triết lý tính thanh khoản giảm dần:

 - Tiền mặt

 - Khoản phải thu

 - Hàng tồn kho

 Tiền mặt nói chung ở đây được hiểu gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ở ngân hàng, tiềnđang trên đường chuyển và các khoản khác tương đương tiền. Cần phải xem xét cótài khoản ngân hàng nào bị đóng băng hoặc đang cầm cố và các khoản tiền mặt vì một lý do nào đó mà chưa hoặc không thể hiện trên bảng cân đối kế toán.

Đối với các công ty xây dựng quốc tế cần xem xét các tài khoản hiện có ở ngân hàngnước ngoài vì liên quan đến vấn đề tỷ giá hối đoái và những quy định quản lý ngoại hối ở mỗi quốc gia.


Khoản phải thu cũng là đặc thù trong các công ty xây dựng. Khi đánh giá cần xem xét chi tiết về số tiền phải thu, thời hạn, các khoản nợ đang tranh chấp và những khoản khó đòi. Ngoài ra, khoản phải thu trong công ty xây dựng còn nằm ở cáckhoản ký quỹ dự thầu, đặc cọc cung ứng nguyên vật liệu.

Hàng tồn kho trong công ty xây dựng cũng như trong các doanh nghiệp nói chung luôn bao gồm nhiều dạng khác nhau: nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang và cácthành phẩm. Cần lưu ý đến hàng hóa đã thanh toán nhưng vẫn còn ký gửi ở kho nhàcung cấp và hàng hóa đang trên đường (xuất, nhập khẩu).

Lưu ý trong định giá các hợp đồng


Các hợp đồng đang thực hiện có lẽ là loại tài sản khó định giá nhất tại bất kỳ thời điểm nào, mặc dù hệ thống kế toán theo phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành là khá hợp lý và đang được áp dụng một cách có hiệu quả trong thực tế.

Phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành được xem là chuẩn mực thực hành dùngđể điều chỉnh giá trị tài sản trong bảng cân đối kế toán cho mỗi kỳ kế toán nhằm phản ánh những thay đổi (công trình đang dở dang).

Trong định giá một công ty xây dựng tại một thời điểm cụ thể, một số giá trị đã đượcxác định hoặc doanh thu được tính theo tỉ lệ phần trăm hoàn thành nhưng một số yếutố khác chưa biết và cần phải ước tính, đặc biệt là chi phí hoàn thành công trình.

Sự chính xác của lợi nhuận ước tính không những phụ thuộc một cách máy móc vàodoanh thu và chi phí trên đây mà còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác. Kinh nghiệm cho thấy việc định giá lúc này đòi hỏi sự kết hợp giữa đội ngũ tài chính kế toán và các chuyên viên kỹ thuật xây dựng.

Tài sản và nghĩa vụ nợ tiềm ẩn

Thông lệ, khi một công ty xây dựng cócác hợp đồng, nếu hoàn thành trước thời hạn và/hoặc với chi phí thấp hơn dự toán sẽ nhận được khoản tiền thưởng. Các khoản tiền như vậy nên được xem xét là một phần lợi nhuận ước tính của hợp đồng hơn là một tài sản tiềm ẩn.

Một trong những nguồn gốc phát sinh ảnh hưởng nhiều nhất đến tài sản và nghĩa vụ nợ tiềm ẩn là các vụ kiện tụng.Nếu có thể, tốt hơn hết là loại trừ các khoản này ra khỏi kết quả định giá trị công ty.


Tương tự, với khoản nợ thuế và các khoản phải hoàn trả tiềm ẩn, nếu chúng buộc phải được định giá thì tốt nhất nên được xác định bởi các chuyên gia trong lĩnh vực này hơn là tự làm.


Kết quả kinh doanh trong quá khứ

Một yếu tố quan trọng góp phần vào kết quả định giá cuối cùng giá trị doanh nghiệp đang hoạt động, cụ thể một côngty xây dựng, là kết quả hoạt động trong quá khứ, thể hiện qua báo cáo thu nhập(báo cáo kết quả kinh doanh).


Thông thường qua thời gian 5 năm là đủ đểkhái quát hiệu quả quản lý, hiệu quả sử dụng tài sản, những lợi thế và bất lợi thế trong hoạt độngdoanh nghiệp. Với hầu hết các công ty xâydựng, khoảng thời gian này là đủ dài để tínhtrung bình các chỉ tiêu đánh giá mà không lo ngại các kết quả bị bóp méo qua từng năm.

 
Thông thường qua thời gian 5 năm là đủ để khái quát hiệu quả quản lý, hiệu quả sửdụng tài sản, những lợi thế và bất lợi thế trong hoạt động doanh nghiệp. Với hầu hết các công ty xây dựng, khoảng thời gian này là đủ dài để tính trung bình các chỉ tiêu đánh giá mà không lo ngại các kết quả bị bóp méo qua từng năm.

Tiến sĩ, Giảng viên Trường đại học mở Tp. HCM - Nguyễn Tấn Bình

 

Theo Tapchiketoan.com

 

--------------------------------------------------

>>> Tin mới nhất

Dao tao ke toan ,Dao tao ke toan thue, đào tạo kế toán,Đào tạo kế toán thuế tại hà nội, tphcm, Đồng Nai Dao tao ke toan truong , Đào tạo kế toán trưởng ,hoc ke toan truong, học kế toán trưởng tại TPHCM, ở Hà Nội, Đồng Nai

 

Lớp Bồi Dưỡng Nghiệp Vụ Thi Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Dịch Vụ Làm Thủ Tục Về Thuế hoc ke toan, hoc sinh ,sinh vien giam 20% hoc phi

 

dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong ,lop ke toan truong tai ha noi dao tao ke toan truong, hoc ke toan truong ,lop ke toan truong tai tphcm

 

>> Thông tư số 145/2011/TT/BTC của Bộ Tài Chính ngày 24/10/2011 Quy định mức thuế suất thuế xuất khẩu một số mặt hàng cao su thuộc nhóm 40.01, 40.02, 40.05 trong biểu thuế xuất khẩu

>> Thông tư số 144/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 21/10/2011 Quy định bổ sung, sửa đổi và hướng dẫn Mục lục ngân sách nhà nước

>> Thông tư số 141/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 20/10/2011 Quy định về chế độ thanh toán tiền nghỉ phép hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng làm việc trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập

>> Quyết Định số 54/2011/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ ngày 11/10/2011 Về việc gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong một số ngành nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh

>> Thông tư số 137/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 03/10/2011 Về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí qua phà Tắc Cậu - Xẻo Rô, tỉnh Kiên Giang

>> Thông tư số 133/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/09/2011 Quy định về học phí sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên đối với đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thuỷ nội địa, bổ túc nâng hạng thuyền trưởng, máy trưởng phương tiện thủy nội địa

>> Thông tư số 132/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/09/2011 Hướng dẫn phương pháp xác định giá trị vườn cây cao su khi cổ phần hóa

>> Thông tư số 23/2011/TT-BLĐTBXH ngày 16/09/2011 Hư­ớng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động

>> Thông tư số 129/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 15/09/2011 Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản

>> Thông tư số 128/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/09/2011 Hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở y tế công lập

>> Thông tư số 125/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 05/09/2011 Hướng dẫn kế toán áp dụng đối với Công ty quản lý Quỹ

>> Thông tư số 124/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 31/08/2011 Hướng dẫn về lệ phí trước bạ

>> Thông tư số 119/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 16/08/2011 Sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi bộ phận dùng cho màn hình dẹt (mỏng) thuộc các mã số 8529.90.94.10, 8529.90.94.90 trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

>> Thông tư số 118/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 16/08/2011 Hướng dẫn về thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu của các dự án điện

>> Thông tư số 116/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 15/08/2011 Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 36/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành mức thuế nhập khẩu xe ôtô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống đã qua sử dụng

>> Thông tư số 113/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 04/08/2011 sửa đổi, bổ sung thông tư số 62/2009/tt-btc ngày 27/3/2009, thông tư số 02/2010/tt-btc ngày 11/01/2010 và thông tư số 12/2011/tt-btc ngày 26/01/2011.

>> Thông tư số 108/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 28/07/2011 Sửa đổi, bổ sung quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng trong Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi

>> Thông tư số 105/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/07/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 63/2011/TT-BTC ngày 13/5/2011 của Bộ Tài chính quy định áp dụng thí điểm chế độ ưu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp

>> Thông tư số 104/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 12/07/2011 Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 11/2010/TT-BTC ngày 19/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài

>> Thông tư số 103/2011/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 11/07/2011 Sửa đổi, bổ sung Khoản 75 Mục II Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 184/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính

 

dao tao ke toan truong,hoc ke toan truong,lop ke toan truong tai ha noi, tphcm

Lớp Bồi Dưỡng Nghiệp Vụ Thi Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Dịch Vụ Làm Thủ Tục Về Thuế

Hoc ke toan, thuc hanh ke toan khai bao thue thuc te tai ha noi ,tphcm

Hướng dẫn lập báo cáo tài chính, huong dan lap bao cao tai chinh, dieu chinh sai sot bctc

TLS gửi 6733, tư vấn mua chứng khoán

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai ha noi

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai tphcm

dich vu ke toan,dich vu ke toan khai bao thue, dịch vụ kế toán thuế

hoc quyet toan thue, tai chinh ke toan thue, tai ha noi ,tphcm